Luïc ñaïo chuùng sanh meâ chöù khoâng giaùc
Taø chöù khoâng chaùnh
Nhieãm chöù khoâng tònh

nhulai.vn

* CHÚNG TA ĐÍCH THỰC LÀ BỒ TÁT NGU SI, NGHIỆP CHƯỚNG SÂU NẶNG

CHÚNG TA ĐÍCH THỰC

LÀ BỒ TÁT NGU SI,

NGHIỆP CHƯỚNG SÂU NẶNG

Giảng giải: Pháp Sư Tịnh Không

 

Nói đến đoạn, nhất định phải khai trí tuệ. Sức định chỉ có thể phục phiền não, không thể đoạn phiền não, đoạn phiền não nhất định phải khai trí tuệ.

Giai thử Phương Đẳng bộ thâu, do đây có thể biết nội dung trong Phương Đẳng rất là rộng lớn. Phi đồng lưu tục, ngoại truyền duy vị, bát niên trung sở thuyết dã. Thông thường gọi đây là năm thời Thuyết Giáo, cái ý này thì rất là nhỏ hẹp.

Phương Đẳng nói ở chỗ này cùng với ý nghĩa mà Thiên Thai nói là không giống nhau. Phương Đẳng này là bao gồm tất cả Kinh Giáo mà Thế Tôn đã giảng trong bón chín năm, bởi vì Kinh Đại Bảo Tích là thuộc về bộ Phương Đẳng, cho nên trước tiên đem ý nghĩa của Phương Đẳng giới thiệu qua một chút.

Kinh Đại Bảo Tích có bón chín hội bảy bảy phẩm, mỗi một hội là một bộ Kinh. Vậy thì do đây có thể biết, Đại Bảo Tích tức là các Kinh tập hợp lại làm thành một đính bản, nội dung trong đó rất là phong phú.

Việc phiên dịch không phải do một người mà là rất nhiều người, cho nên nói trước sau, trong các Quý Thầy, có người phiên dịch một hội, cũng có người dịch hai hội, ba hội, cho nên có rất nhiều người dịch.

Trước thời Nhà Đường chưa có đem nó thu tập lại, do đó mà lưu thông riêng từng bộ. Kinh Vô Lượng Thọ của Tịnh Độ chúng ta cũng ở trong bộ Đại Bảo Tích, vào Triều Nhà Đường dịch ra chính là hội thứ năm của Kinh Bảo Tích, đây là hội Vô Lượng Thọ của Kinh Vô Lượng Thọ.

Đường triều Bồ Đề Lưu Chí. Vào thời đại của Võ Tắc Thiên, Ngài đi đến Trung Quốc, xem thấy gần như bộ phận lớn Kinh Bảo Tích đều đã được dịch ra nhưng không hoàn chỉnh, thế là Ngài trùng tân những thứ nào mà các thầy trước Chưa dịch ra và đem toàn bộ những Kinh này phiên dịch ra.

Ngài đã làm thành ba sáu hội, ba chín quyển, sau đó đem những bản dịch của các Pháp Sư trước thảy đều kết tập lại. Từ trước các pháp sư đã dịch được hai ba hội tám mốt quyển, thế là đem nó kết hợp lại, chính là một bộ hoàn chỉnh Kinh Bảo Tích, hiện tại chúng ta có thể xem thấy trong Đại Tạng Kinh.

Dường như Đài Loan cũng có in riêng một bản để lưu thông, tổng cộng nó có bốn chín hội một trăm hai mươi quyển, đó là toàn bản của Kinh Đại Bảo Tích.

Cái gì gọi là Bảo Tích?

Chỗ này phía sau có một giải thích. Pháp Bảo chi tập tích dã vi đại thừa thâm diệu chi pháp cố mục chi vi bảo. Thực tế mà nói, trong một bộ Kinh lớn này đã thu tập đến bốn chín bộ.

Bốn mươi chín hội này chính là bón chín bộ Kinh, mỗi một bộ đều thâm diệu không thể nghĩ bàn cho nên thí dụ nó là bảo. Vô lượng Pháp Môn nhiếp tại thử trung, cho nên gọi nó là tích, ý nghĩa là tụ hợp lại.

Bảo Tích Kinh Luận nhất viết, nhất là một quyển. Bảo Tích Linh Luận là chú giải của Kinh này, thế nhưng không hoàn toàn, nó chỉ có bốn quyển, người nào chú giải cũng không biết vì đã thất truyền rồi, thế nhưng luận văn này có thâu ở trong Đại Tạng Kinh, có giải thích đơn giản đối với đề Kinh.

Ngài nói: Đại Thừa pháp bảo trung, nhất thiết Chư Pháp sai biệt giả, bỉ tận nhiếp thủ cố danh Bảo Tích. Từ ngay câu này, chúng ta có thể biết được một cách đại khái ý nghĩa của đề Kinh này. Đây là đơn giản đem Phương Đẳng, bộ Phương Đẳng của Kinh Bảo Tích giới thiệu ra.

Phía sau là người dịch Kinh. Vừa rồi mới nói người phiên dịch Kinh này rất nhiều, chúng ta cũng không cần mỗi mỗi giới thiệu ra, chúng ta chỉ riêng giới thiệu người kết tập nó lại là Bồ Đề Lưu Chí. Bồ Đề Lưu Chí là dịch âm từ tiếng Phạn, dịch thành ý nghĩa của tiếng Trung Quốc là Giác Ai.

Bồ Đề là Giác, Lưu Chí là Ai, ý nghĩa là Giác Ai. Ngài là người Nam Thiên Trúc, vào lúc đó Ấn Độ gọi là Thiên Trúc, chính là người Nam Ấn Độ, đến lúc Đường Võ Hậu, thời đại của Võ Tắc Thiên thì Ngài đến Trung Quốc, dịch Tam Tạng Kinh, Ngài là Pháp Sư Dịch Kinh.

Khai nguyên thích giáo lục cửu viết, thích giáo lục là mục lục của Kinh Điển Phật Giáo, trong mục lục có giới thiệu đơn giản là Sa Môn Bồ Đề, Lưu Chí bổn danh, Đạt Ma Lưu Chi.

Tên đầy đủ của Ngài là Đạt Ma Lưu Chi, Đạt Ma là pháp, Lưu Chi là ý nghĩa hy hữu, cho nên tên của Ngài chính là pháp hy hữu, cái ý là như vậy. Thiên Hậu cải thành Bồ Đề Lưu Chí.

Thiên Hậu là Võ Tắc Thiên, Võ Tắc Thiên đại khái hiềm tên này của Ngài ý nghĩa không tốt, bà tâm huyết mời Ngài vào triều đổi lại tên của Ngài, đổi thành Giác Ai, Bồ Đề Lưu Chí là tên mà Võ Tắc Thiên đặt cho Ngài.

Đường ngôn Giác Ai, nam Ấn Độ nhân, Tống Cao Tăng Truyện tam viết, thích Bồ Đề Lưu Chí nam Thiên Trúc quốc nhân, tịnh hạnh Bà La Môn chủng tánh Ca Diếp thị.

Vậy thì các vị nếu như muốn tường tận hơn một chút, có thể xem Cao Tăng Truyện. Tống Cao Tăng truyện là Cao Tăng Truyện tập thứ ba, trong đó có truyện ký của Ngài. Chúng ta đơn giản giới thiệu đến chỗ này.

Phía sau là nội dung của bổn Kinh sơ lượt cũng làm giới thiệu. Thử Kinh nãi đại, Bảo Tích Kinh đệ cửu thập nhất chí cửu thập nhị quyển. Cho nên Kinh văn này tổng cộng có hai quyển, có Thượng Hạ hai quyển. Ở trong Kinh Đại Bảo Tích, quyển thượng là quyển chín mốt, quyển hạ là quyển chín hai.

Phát thắng chí lạc, hội đệ nhị thập ngũ tam Pháp Tạng, Sư Bồ Đề Lưu Chí phụng triệu trạch. Chữ triệu này là Thánh chỉ của Võ Tắc Thiên, vâng lệnh Hoàng Đế để phiên dịch. Duyệt tạng tri tân, tương toàn Kinh nội, dung phân tác thập, ngũ đoạn giới thiệu.

Duyệt tạng tri tân là Đại Sư Ngẫu Ích làm, là tác phẩm của Đại Sư Ngẫu Ích. Đại Sư Ngẫu Ích xem thấy bộ Kinh này, đã đem bộ Kinh này phân làm mười năm đoạn, nội dung của mỗi một đoạn giới thiệu ở phía sau.

Đoạn thứ nhất là Phật tại Lộc Uyển, chính là vườn Lộc Dã. Dữ thiên Tỳ Kheo, ngũ bách Bồ Tát cụ. Phía trước phân ra Phần Tựa và chánh tông phần, ở trong Duyệt tạng tri tân không có, đó là bởi vì chúng ta giảng bộ Kinh này, vì thấy sự tiện lợi mà nêu ra, thêm nó vào, chính là Kinh mở ba phần. Vậy thì đoạn thứ nhất cùng đoạn thứ hai đều là thuộc về Phần Tựa.

Đoạn thứ nhất là thông tựa, đoạn thứ hai là phát khởi tựa của quyển Kinh. Hữu Chư Bồ Tát, nghiệp chướng thâm trọng, nghi hoặc thoái chuyển, Di Lặc Bồ Tát, úy vấn linh thiện, đây là đoạn thứ hai. Cho nên vừa mở đầu đoạn này liền biết được vì sao nói Kinh này. Đối với người học Phật hiện tại chúng ta mà nói rất là quan trọng.

Chúng ta đích thực là Bồ Tát ngu si nghiệp chướng sâu nặng. Mọi người đều đã thọ Bồ Tát giới rồi nên đều là Bồ Tát, đây chính là bổn Kinh này đã nói.

Đoạn thứ ba là phần chánh văn của bổn Kinh này. Hữu lục thập nhân, tùy cần chỉ Phật. Thuận theo khuyến cáo của Bồ Tát Di Lặc, sáu mươi người này liền cùng với Bồ Tát Di Lặc đến gặp Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi nhìn thấy Thích Ca Mâu Ni Phật, họ rất hổ thẹn, thiện căn phát sinh, sát đất rơi lệ.

***